 |
Đây là dịp để Chính phủ lắng nghe những yêu cầu, kiến nghị, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh từ đó để cùng với các doanh nghiệp bàn kế sách tháo gỡ, giải quyết và đưa ra phương hướng phát triển DNDD giai đoạn 2007-2010. |
Đơn giản hóa thủ tục hành chính cho DNDD
Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, điều hành quyết liệt nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp, như: cơ quan Nhà nước thực hiện niêm yết công khai toàn bộ quy trình, thủ tục, thời hạn giải quyết công việc đối với doanh nghiệp, thiết lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp, một số cơ quan hành chính Nhà nước làm việc thêm ngày thứ bảy để giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp,...
Thực tiễn cho thấy, một trong những chính sách quan trọng của Chính phủ được cộng đồng doanh nghiệp rất ủng hộ là việc ủy quyền và phân cấp cho các địa phương được cấp phép và quản lý hoạt động đầu tư.
Tuy nhiên, môi trường kinh doanh hiện nay vẫn còn một số hạn chế mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tin rằng giải quyết được các hạn chế này sẽ tạo nên sức bật lớn hơn nữa cho nền kinh tế. Đó là việc còn tồn tại nhiều giấy phép con.
Cộng đồng doanh nghiệp hy vọng ngay trong năm 2007, Chính phủ sẽ hoàn thiện việc rà soát và bãi bỏ những giấy phép "con" không hợp lý, đổi mới cơ chế, chính sách thuế đối với DNDD.
Nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của DNDD
Nhằm nâng cao năng lực và khả năng cạnh của DNDD hơn nữa, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu cần phải làm rõ và đề ra phương hướng giải quyết cụ thể đối với 6 nhóm vấn đề. Trước hết là việc nắm bắt thời cơ, vận hội của các DNDD; khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính để tạo vốn cho doanh nghiệp; khả năng và điều kiện tiếp cận với đất đai, mặt bằng, vị trị, địa điểm kinh doanh; các điều kiện thuận lợi tạo ra từ phía Nhà nước, Chính phủ nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường trong và ngoài nước; nâng cao sức cạnh tranh, trình độ quản trị nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, tiếp thị, thương hiệu của DNDD để có thể vươn ra thị trường quốc tế; và cuối cùng là xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh, khu vực doanh nghiệp dân doanh cần phát triển hơn nữa các ngành nghề, vùng nguyên liệu; phát triển hơn về quy mô, vốn, tài sản, doanh số hoạt động... để đủ sức cạnh tranh với thị trường quốc tế.
Hoàn thiện môi trường pháp lý để DNDD hoạt động hiệu quả
|
Hiện nay, DNDD sử dụng gần 3 triệu lao động, đóng góp hơn 40% GDP và 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Khu vực DNDD luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng trên 18%/năm, đóng góp khoảng 14,8% tổng thu ngân sách nhà nước. |
Kết luận Hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu, cần tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý theo hướng ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, điều chỉnh thuế nhập khẩu phù hợp theo đúng lộ trình quốc tế. Pháp luật đất đai cũng cần phải hoàn thiện trên cơ sở quy hoạch có ưu tiên ngành nghề, có chính sách hỗ trợ các DN vừa và nhỏ ở những vùng khó khăn về công nghệ, ưu đãi đầu tư...
Tại Hội nghị, TS Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã khẳng định: “Có lẽ trong lịch sử thời bình, chưa bao giờ báo chí nước ngoài nhắc tên Việt Nam nhiều như năm vừa qua. Với hình ảnh quốc gia, Việt Nam được nhắc đến như là "con hổ mới", "ngôi sao đang lên"… Với nền kinh tế, Việt Nam luôn được nhắc đến như là một điểm đến hấp dẫn về đầu tư, một thị trường nhiều tiềm năng, là lựa chọn đầu tư hàng đầu ở Châu Á… DĐDN trân trọng giới thiệu bài phát biểu của TS Vũ Tiến Lộc.
1. NHỮNG THÀNH CÔNG CỦA VIỆT NAM VÀ CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
Năm 2006 và những tháng đầu năm 2007 vừa qua có thể xem là giai đoạn đặc biệt đối với dân tộc Việt Nam nói chung cũng như cộng đồng kinh doanh Việt Nam nói riêng. Trong giai đoạn này, Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO sau 11 năm chuẩn bị gia nhập; tổ chức thành công Hội nghị APEC…
Việt Nam cũng đạt được nhiều thành công trong việc thắt chặt quan hệ hợp tác với các đối tác lớn như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc... Với Nhật Bản, hai Chính phủ đang bàn thảo kế hoạch triển khai các dự án lớn thời gian tới như xây dựng đường cao tốc Bắc Nam, đường sắt Bắc Nam, Khu công nghệ cao Hoà Lạc… Với Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Ấn Độ… nhiều dự án lớn đã các doanh nghiệp hai bên ký kết triển khai.
Có lẽ trong lịch sử thời bình, chưa bao giờ báo chí nước ngoài nhắc tên Việt Nam nhiều như năm vừa qua. Với hình ảnh quốc gia, Việt Nam được nhắc đến như là "con hổ mới", "ngôi sao đang lên", "một thế lực mới"… Với nền kinh tế, Việt Nam luôn được nhắc đến như là một điểm đến hấp dẫn về đầu tư, một thị trường nhiều tiềm năng, là lựa chọn đầu tư hàng đầu ở Châu Á…
Không chỉ có được những thành công trong tiếp thị hình ảnh, năm qua, những cố gắng và nỗ lực của Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam được thể hiện qua những con số rất ấn tượng: tăng trưởng GDP đạt 8,2%, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 40 tỷ USD trong đó, kim ngạch của 9 mặt hàng xuất khẩu Việt Nam vượt ngưỡng 1 tỷ USD, đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đạt con số kỷ lục 10,2 tỷ USD… Đáng chú ý là những tập đoàn lớn hàng đầu thế giới như Intel, Canon… đã chọn Việt Nam là nơi làm ăn lâu dài, là tín hiệu khẳng định Việt Nam là điểm đến hấp dẫn, an toàn đối với cộng đồng kinh doanh quốc tế. Thị trường chứng khoán năm 2006 đặc biệt phát triển mạnh mẽ, giá trị vốn hoá của thị trường tăng 20 lần so với năm trước, gần đạt ngưỡng 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của năm.
Trong những thành công đó, chúng tôi muốn nhấn mạnh về bốn điểm nhấn quan trọng mà cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao về Chính phủ trong năm 2006 và những tháng đầu năm 2007:
Việc Thủ tướng Chính phủ trực tiếp xuất hiện tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Diễn đàn các nhà doanh nghiệp ASEAN, trực tiếp đối thoại với các lãnh đạo tập đoàn kinh tế và các cơ quan truyền thông hàng đầu thế giới; lần đầu tiên Thủ tướng gặp gỡ và trực tiếp đối thoại với cộng đồng các nhà tài trợ cho Việt Nam và trực tiếp thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư lớn mang tính chiến lược qua các chuyến đi thăm các nước… đã chuyển tải rất thuyết phục thông điệp này. Những chỉ đạo, điều hành các chính sách nói chung và chính sách về kinh tế gần đây một cách cụ thể, quyết liệt của Thủ tướng và Chính phủ được đánh giá là phù hợp với mong muốn, nhu cầu của người dân và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy cả bộ máy chính quyền vận hành tốt hơn.
Điều mà cộng đồng doanh nghiệp có thể nhận thấy rõ trong năm 2006 và những tháng đầu năm 2007 là hình ảnh một Chính phủ "mở". Các vị Bộ trưởng xuất hiện thường xuyên hơn trước các phương tiện thông tin đại chúng, đối thoại trực tiếp với người dân và doanh nghiệp về các vấn đề chính sách. Nổi bật nhất là Thủ tướng Chính phủ lần đầu tiên đối thoại trực tiếp với dân qua Internet…
Cộng đồng doanh nghiệp hoan nghênh tinh thần đối thoại cởi mở của một số bộ ngành như Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Thương mại, Bộ Giáo dục và Đào tạo khi Bộ trưởng trực tuyến đối thoại với doanh nghiệp và người dân. Một số địa phương cũng rất tích cực trong hoạt động này như lãnh đạo chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã thiết lập được và vận hành nhiều năm nay hệ thống đối thoại doanh nghiệp trực tuyến trên Internet, đối thoại thường kỳ trên truyền hình hay đài phát thanh…
Thời gian qua cộng đồng kinh doanh đã được chứng kiến những chỉ đạo, điều hành hết sức quyết liệt của Thủ tướng nhằm thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính và lề lối làm việc của bộ máy công chức.
Cộng đồng doanh nghiệp hết sức ủng hộ những chỉ đạo cụ thể và sâu sát gần đây như việc Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tất cả các cơ quan Nhà nước phải niêm yết công khai toàn bộ quy trình, thủ tục, thời hạn giải quyết công việc, quyền nghĩa vụ của doanh nghiệp, thành lập đường dây nóng, thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, độc lập, khách quan; hay chỉ đạo một số cơ quan Nhà nước phải làm việc cả ngày Thứ Bảy nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân… đã mang lại rất nhiều ý nghĩa và có những chuyển biến hết sức tích cực không chỉ trong tư duy của đội ngũ công chức mà thể hiện ở những lợi ích to lớn đối với người dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Một điểm tích cực trong chính sách của Chính phủ thời gian qua mà cộng đồng kinh doanh rất ủng hộ là việc ủy quyền và phân cấp phần lớn thẩm quyền về cấp phép và quản lý hoạt động đầu tư cho các địa phương. Trong khung khổ chính sách chung, các tỉnh đã có sự cạnh tranh lẫn nhau để cải thiện chất lượng điều hành kinh tế, có động lực để cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ hơn, tạo được hình ảnh thân thiện hấp dẫn về môi trường đầu tư của địa phương đối với các nhà đầu tư.
Cùng với tinh thần rất quyết liệt và sát sao từ Chính phủ Trung ương, nhiều địa phương đã rất nỗ lực và sáng tạo trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính, điển hình như một số tỉnh đã chủ động triển khai thực hiện thành công ban đầu mô hình "một cửa liên thông" trong gia nhập thị trường (như Hà Nội, Bắc Ninh, Bình Định, Hải Phòng…). Nhờ vậy, thủ tục đầu tư tại nhiều địa phương đã được rút ngắn nhiều về thời gian cũng như giảm được nhiều về chi phí.
Qua việc điều tra và công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI do VCCI tiến hành hai năm vừa qua, nhiều tỉnh đã được các doanh nghiệp đánh giá cao trong thời gian qua như Bình Dương, Đà Nẵng, Vĩnh Phúc, Bình Định, Đồng Nai… Một số tỉnh chưa được các doanh nghiệp xếp hạng cao thời gian qua nhưng năm 2006 vừa qua đã trở thành những "hiện tượng" mới trong thu hút đầu tư như Hà Tây, Bà Rịa – Vũng Tàu…
2. MỘT SỐ HẠN CHẾ CẦN KHẮC PHỤC
Tuy vậy, môi trường kinh doanh hiện nay vẫn còn một số hạn chế mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tin rằng giải quyết được những hạn chế này sẽ tạo ra được sức bật lớn hơn nữa cho nền kinh tế.
1. Cơ chế và thủ tục hành chính cần tiếp tục cải thiện hơn nữa để đáp ứng được yêu cầu phát triển
Dù đã có rất nhiều cải thiện, tuy vậy theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, thủ tục hành chính hiện nay vẫn được xem là khá phiền hà, còn cản trở đối với các hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng chi phí kinh doanh… điển hình là các thủ tục liên quan đến gia nhập thị trường, đất đai và giấy phép "con".
Trong gia nhập thị trường, điều tra 6.700 doanh nghiệp dân doanh của VCCI năm 2007 cho thấy thời gian bình quân để các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh năm 2006 vừa qua là 22,7 ngày. Dù thủ tục trong gia nhập thị trường đã được cải tiến rất nhiều, vẫn có đến hơn 25% số doanh nghiệp thành lập từ năm 2006 đến nay mất hơn 30 ngày để nhận được tất cả các giấy tờ cần thiết. Thủ tục về đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, đất đai, môi trường… hiện nay còn chồng chéo, nhiều điểm chưa rõ ràng, gây khó khăn cho cả nhà đầu tư và cơ quan Nhà nước.
Về đất đai, nhu cầu tiếp cận được đất đai của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện vẫn rất lớn: hơn 65% doanh nghiệp qua điều tra của VCCI cho biết rằng sẽ mở rộng hoạt động kinh doanh của mình nếu dễ dàng tiếp cận đất đai hơn. 22,47% doanh nghiệp đánh giá tính ổn định của mặt bằng kinh doanh là thấp hoặc rất thấp. Cơ chế định giá đất hiện chưa phù hợp, thủ tục còn phiền hà và tốn kém. Thời gian bình quân để các doanh nghiệp nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lên đến 131,8 ngày.
Về giấy phép "con", qua điều tra, một doanh nghiệp vẫn cần đến bình quân 4,14 giấy phép kinh doanh các loại, 14,56% doanh nghiệp qua điều tra đánh giá rằng rất khó khăn và khó khăn để có đủ các loại giấy phép cần thiết này. Điều đáng lưu ý là các giấy phép "con" không ngừng xuất hiện trong thời gian qua, trong khi hiện không có cơ chế, quy chuẩn hay cơ quan để rà soát, đánh giá và kiểm soát vấn đề này. Năm 2006 vừa qua, VCCI đã tiến hành rà soát thử 37 loại giấy phép kinh doanh của một số ngành. Kết quả cho thấy 100% số giấy phép được đánh giá là có điều kiện cấp phép không hợp lý; 89% số giấy phép được rà soát có vấn đề về thủ tục cấp phép…
Các thủ tục hành chính khác nói chung còn khá phiền hà. Qua điều tra có đến 22,9% doanh nghiệp phải dành hơn 10% quỹ thời gian của mình để giải quyết các thủ tục hành chính. Thủ tục hành chính khó khăn rõ ràng tạo ra địa dư thuận lợi cho tham nhũng và đẩy chi phí kinh doanh của doanh nghiệp lên cao. Điều tra của VCCI cho thấy rằng 68,48% số doanh nghiệp thường xuyên phải trả các khoản chi phí không chính thức trong các hoạt động kinh doanh.
2. Cơ sở hạ tầng chưa phát triển tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế/
Hiện nay, cơ sở hạ tầng chưa phát triển tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh và năng lực cạnh tranh của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam. Quy hoạch phát triển và năng lực hoạt động của cảng biển, hệ thống giao thông, nhất là giao thông đô thị, khả năng cung cấp điện… còn khiến các nhà đầu tư chưa thật yên tâm.
Theo điều tra của VCCI cho thấy chỉ có 65,96% doanh nghiệp dân doanh hài lòng về chất lượng đường giao thông (trong đó 10% đánh giá tiêu cực); 82,41% hài lòng về chất lượng điện thoại (10,85% đánh giá tiêu cực); 61,02% hài lòng về chính sách phát triển cơ sở hạ tầng của địa phương (7,64% đánh giá tiêu cực) và chỉ có 52,73% hài lòng về chính sách phát triển khu/cụm công nghiệp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (trong đó 12,47% đánh giá tiêu cực).
3. Hệ thống tư pháp chưa đáp ứng tốt yêu cầu của các hoạt động kinh doanh.
Kết quả điều tra năm 2007 cho thấy rằng đến 91,2% doanh nghiệp qua điều tra lựa chọn cách đầu tiên để giải quyết khi có tranh chấp là "tự đàm phán và dàn xếp" mà không đưa ra cơ quan tòa án. Khá nhiều doanh nghiệp chưa tin tưởng vào chất lượng giải quyết tranh chấp của hệ thống cơ quan tư pháp hiện nay. Theo một điều tra của VCCI tiến hành tháng 8 năm 2006 thì có 28% doanh nghiệp (đã từng đưa vụ việc ra tòa án) đánh giá rằng tòa án giải quyết không công bằng tranh chấp của mình, 26% doanh nghiệp không thi hành được bản án.
4. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng tốt yêu cầu của doanh nghiệp
Kết quả điều tra của VCCI cho thấy, chất lượng của dịch vụ đào tạo nghề cho người lao động và các dịch vụ hỗ trợ hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Chỉ có 55,95% doanh nghiệp qua điều tra hài lòng với dịch vụ đào tạo nghề cho người lao động; 52,31% hài lòng với dịch vụ hỗ trợ tuyển dụng và môi giới lao động. Những tỷ lệ này đều thấp hơn so với mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng giáo dục đào tạo phổ thông nói chung (73,60%).
5. Hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn từ năng lực, thông tin cho đến khung khổ pháp lý.
Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của mở cửa thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cường liên kết với nhau chặt chẽ và hiệu quả. Tuy vậy, điều rất đáng lo ngại là tỷ lệ các doanh nghiệp dân doanh tham gia các hiệp hội hiện còn rất ít. Điều tra doanh nghiệp năm 2007 của VCCI cho thấy, trung bình cả nước chỉ có 28,28% doanh nghiệp tham gia các hiệp hội.
Mặc dù nguy cơ các tranh chấp pháp lý trong hội nhập rất cao cũng như đòi hỏi tăng cường hơn nữa vai trò của các hiệp hội trong góp ý và tư vấn chính sách cho Nhà nước ngày càng lớn nhưng dường như các hiệp hội doanh nghiệp vẫn chưa sẵn sàng. Bên cạnh những khó khăn của bản thân các hiệp hội như thiếu nhân lực, kinh phí thì các hiệp hội còn gặp nhiều khó khăn về thông tin hay về kiến thức. Kết quả điều tra 64 hiệp hội doanh nghiệp mà VCCI thực hiện tháng 8 năm 2006 cho thấy đến 75% hiệp hội cho biết khó khăn chủ yếu khi theo đuổi các vụ kiện chống bán phá giá vẫn là thiếu thông tin, thiếu cơ sở dữ liệu ngành hàng hay hệ thống kế toán không minh bạch…
Ngay cả việc bảo vệ ngành hàng và thị trường của mình tại chính "sân nhà" bằng các biện pháp tự vệ như khởi xướng các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam, đa phần số hiệp hội doanh nghiệp cũng không có khả năng thực hiện. Chỉ có 21% hiệp hội cho biết đủ sức để tiến hành khởi kiện chống bán phá giá ở Việt Nam, 52% nhận định là không thể và 27% cho rằng không biết. Các khó khăn lớn nhất vẫn là thiếu thông tin thống kê của hải quan và thương mại; các quy định pháp luật hiện chưa rõ ràng và đầy đủ; thiếu nhân lực am hiểu hay thiếu thông tin chính xác…
Về khung khổ pháp lý, dù đã được khởi xướng xây dựng từ năm 1992, tuy vậy hiện nay Dự thảo Luật về Hội vẫn chưa được thông qua. Điều chỉnh bởi các quy định cũ với nhiều điểm chưa phù hợp, "sân chơi pháp lý" cho các hiệp hội doanh nghiệp đã quá chật chội. Việc thành lập hiệp hội doanh nghiệp ở một số nơi, một số lĩnh vực vẫn chưa thuận lợi.
3. CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ
Để nền kinh tế Việt Nam tiếp tục pháp triển nhanh chóng và bền vững hơn nữa, cộng đồng doanh nghiệp đề nghị Chính phủ các nhóm giải pháp cần ưu tiên thực hiện trong thời gian tới như sau:
1. Nhóm giải pháp thứ nhất: Đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính gắn với công khai và minh bạch hóa
- Thực trạng giấy phép "con" thời gian qua cho thấy rằng, việc các bộ, ngành tự rà soát và bãi bỏ các quy định dù cần thiết nhưng không triệt để. Quá trình này rất cần có sự tham gia chủ động và rộng rãi hơn nữa của các tổ chức độc lập bên ngoài. Do vậy, đề nghị Thủ tướng và Chính phủ xây dựng cơ chế để Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội doanh nghiệp và cơ quan báo chí có thể tham gia vào quá trình rà soát các quy định liên quan đến môi trường kinh doanh này. Và quá trình này cần thực hiện thường xuyên, đồng bộ.
- Cộng đồng doanh nghiệp cũng kỳ vọng rằng Quý 4 của năm 2007 tới, Chính phủ có thể rà soát và bãi bỏ tất cả những giấy phép kinh doanh và điều kiện kinh doanh không hợp lý, ban hành Nghị định về việc rà soát và giám sát việc ban hành các giấy phép kinh doanh để hạn chế tình trạng các giấy phép con tiếp tục xuất hiện sau khi Chính phủ đã bãi bỏ.
- Đề nghị Thủ tướng và Chính phủ dành nhiều thời gian và nguồn lực hơn nữa để tăng cường trách nhiệm công khai hoá thông tin của cả bộ máy Nhà nước. Ngoài việc thực hiện quyết liệt và triệt để hơn nữa các quy định về công khai và minh bạch hoá liên quan đến thủ tục hành chính của Chính phủ, cộng đồng kinh doanh đang chờ đợi việc công khai và cởi mở các thông tin chuyên ngành từ những cơ quan Nhà nước khác như hải quan, thương mại, nông nghiệp và phát triển nông thôn, thống kê… để phục vụ tốt hơn nữa cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Cộng đồng doanh nghiệp ý thức rằng việc đẩy mạnh công khai minh bạch gắn liền với tăng cường tính tiên liệu của môi trường đầu tư và hạn chế tình trạng tham nhũng. Đề nghị Thủ tướng yêu cầu các bộ ngành công khai các thông tin một cách đầy đủ, chất lượng và kịp thời các chính sách liên quan đến doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh mà Bộ dự kiến ban hành hay sửa đổi; thông tin về chính sách mới dự kiến. Ngoài trách nhiệm buộc phải tham khảo ý kiến doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp khi ban hành chính sách liên quan, khi tiếp nhận các ý kiến đóng góp đó, các bộ, ngành cần giải trình công khai ý kiến nào tiếp nhận, ý kiến nào không, tại sao không tiếp nhận…
2. Nhóm giải pháp thứ 2: Huy động mọi nguồn lực để phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao hơn nữa chất lượng quy hoạch cơ sở hạ tầng.
- Với tốc độ tăng trưởng kinh tế và đầu tư lớn như hiện nay, Chính phủ và các bộ, ngành cần gỡ bỏ các rào cản và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa các giải pháp nhằm huy động và khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước và người dân tham gia tích cực vào việc phát triển cơ sở hạ tầng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh vốn vay ODA ưu đãi dành cho Việt Nam trong thời gian tới sẽ ngày càng giảm dần.
- Nâng cao hơn nữa chất lượng quy hoạch: Quy hoạch cơ sở hạ tầng (quy hoạch năng lượng, đường giao thông, cảng biển…) cần phải đi trước một bước sự phát triển kinh tế và đầu tư. Việc xây dựng, bổ sung, sửa đổi những quy hoạch này cần công khai và tham khảo ý kiến rộng rãi của các hiệp hội doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp. Đề nghị Chính phủ chú trọng hơn nữa đến quy hoạch cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội các vùng đô thị, ven đô thị đặc biệt là ở địa phương đã và đang thu hút nhiều vốn đầu tư và lao động di cư.
3. Nhóm giải pháp thứ 3: Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về giáo dục và đào tạo
Cộng đồng doanh nghiệp chia sẻ những sức ép từ xã hội đối với Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo về yêu cầu cần phải cải cách toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay. Chúng tôi tin rằng đầu tư tương xứng và có chất lượng vào giáo dục và đào tạo chính là cách để nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững của nền kinh tế Việt Nam, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước cũng như phát huy và nâng cao được "tầm vóc" của người Việt.
Chúng tôi rất ủng hộ những biện pháp như tạo điều kiện để huy động nhiều nguồn lực tham gia đầu tư vào giáo dục, thu hút đầu tư nước ngoài vào trường đại học khoa học – công nghệ, ngoại ngữ, hay thí điểm xây dựng trường đại học chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế…
Chúng tôi mong muốn tín hiệu từ thị trường lao động là định hướng cho hoạt động đào tạo, trước hết là các cơ sở đào tạo nghề và các trường đại học. Do vậy, đề nghị Chính phủ có những khảo sát, đánh giá thực trạng và dự báo nhu cầu sử dụng nhân lực để có những chiến lược và quyết sách phù hợp.
4. Nhóm giải pháp thứ 4: Tăng cường năng lực của hiệp hội doanh nghiệp và xây dựng cơ chế đối thoại thường xuyên, thực chất giữa cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp
Hiệp hội doanh nghiệp mạnh chắc chắn sẽ đóng góp rất nhiều đối với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp và sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam. Chúng tôi thấy rằng, điều cản trở các hiệp hội doanh nghiệp mạnh lên hiện nay chủ yếu là do: 1) khung pháp lý về hiệp hội chưa đầy đủ và chưa phù hợp; 2) hiệp hội doanh nghiệp chưa có vai trò tương xứng; và 3) nhân lực, bộ máy, kinh phí hoạt động của hiệp hội doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.
Do vậy, chúng tôi đề nghị Chính phủ:
- Trình Quốc hội ban hành Luật về Hội kịp thời trong thời gian tới theo hướng các hiệp hội doanh nghiệp cần có được sự độc lập và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động, đơn giản hoá thủ tục thành lập hiệp hội doanh nghiệp.
- Cần tăng cường hơn nữa vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật. Chúng tôi đề nghị Chính phủ có thể lựa chọn giao cho các hiệp hội trách nhiệm dự thảo văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh (có thể giao cho cả các bộ, ban ngành và hiệp hội cùng thực hiện nhiệm vụ này).
- Đề nghị Chính phủ xem xét và ban hành quy định (có thể là Nghị định hoặc Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) về quyền và thủ tục tham gia đóng góp và phản biện chính sách của các hiệp hội doanh nghiệp.
- Uỷ quyền nhiều hơn nữa cho các hiệp hội doanh nghiệp thực hiện các công việc do cơ quan hành chính Nhà nước đảm nhiệm như đào tạo nghề, cấp bằng, chứng chỉ, cấp giấy chứng nhận xuất xứ…
- Chính phủ dành nhiều nguồn lực hơn nữa cho chương trình nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ các hiệp hội doanh nghiệp về các vấn đề hội nhập, thông tin thị trường… Chúng tôi tin rằng nếu thực hiện tốt thì đây là cách hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam phù hợp và hiệu quả.
Về xây dựng cơ chế đối thoại giữa cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp một cách thường xuyên và thực chất hơn nữa, chúng tôi đề nghị Chính phủ:
- Chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương xây dựng quy chế đối thoại với doanh nghiệp và người dân thường xuyên và chất lượng. Đối thoại cần là hoạt động bắt buộc, định kỳ và thiết thực, có lộ trình thực hiện và kết quả cụ thể, có cam kết của cơ quan Nhà nước tham gia đối thoại và có đánh giá của cộng đồng.
- Đề nghị Chính phủ tạo điều kiện và khuyến khích để cho những định chế ngoài nhà nước (như các viện nghiên cứu độc lập, các hiệp hội…) theo dõi, giám sát và đánh giá về mức độ thực hiện cam kết cải cách hành chính của các bộ, ngành và các địa phương. Kinh nghiệm điều tra và công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh về môi trường kinh doanh của các tỉnh (PCI) trong hai năm vừa qua của VCCI cho thấy cách thức này vừa tạo cơ hội để mọi doanh nghiệp phản ánh được tiếng nói khách quan, trung thực vừa cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho các cơ quan Nhà nước có liên quan.
- Không chỉ tăng cường đối thoại giữa cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp, đề nghị Chính phủ chỉ đạo tăng cường trao đổi kinh nghiệm và có các chương trình chia sẻ kinh nghiệm về điều hành kinh tế, phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư giữa các địa phương. Thời gian qua, cộng đồng doanh nghiệp thấy rằng, những điểm mới trong quảng bá môi trường đầu tư, nắm bắt yêu cầu của nhà đầu tư, cải cách thủ tục hành chính… đã có sự học hỏi và trao đổi kinh nghiệm giữa các địa phương rất tốt. Chính phủ có thể nghiên cứu để điều chuyển những cán bộ quản lý kinh tế ở các địa phương thành công sang những vùng kém hơn.
Mặc dầu còn rất nhiều việc cần phải làm, nhưng chưa bao giờ, môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam thuận lợi như lúc này. Những tín hiệu hết sức tích cực từ cộng đồng kinh doanh trong và ngoài nước đã khẳng định điều này. Ngay từ những tháng đầu năm 2007 đến nay, rất nhiều dự án đầu tư nước ngoài lớn đã hình thành hứa hẹn một năm tiếp tục "bội thu" về thu hút đầu tư nước ngoài.
Về phía cộng đồng doanh nghiệp dân doanh, kết quả điều tra 6.700 doanh nghiệp của VCCI thời điểm tháng 4 năm 2007 cho thấy rằng có đến 72,46% doanh nghiệp dự định tăng quy mô kinh doanh của mình trong hai năm tới. Không khí lạc quan từ cộng đồng kinh doanh và sự quyết tâm, quyết liệt của Chính phủ chính là cơ sở để chúng ta tin tưởng vào sự vươn lên của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.