Label
Đăng Ký  Đăng Nhập
Tiếng Việt| English
 Tìm Kiếm
 Liên kết  
 Khảo sát nhanh  
Để hấp dẫn các nhà đầu tư hơn nữa, ĐắkLắk cần cải thiện lĩnh vực nào nhất?
 
  
 

Lịch sử 

Về mặt hành chính, vùng đất Đắk Lắk đã mang nhiều tên gọi khác nhau và được tách, nhập nhiều lần với các địa phương xung quanh. Việc lấy tên của sông suối, của người đứng đầu buôn làng, có danh tiếng đặt tên cho địa phương của mình là hiện tượng phổ biến ở Tây Nguyên. Như trường hợp tên tỉnh Đắk Lắk có căn nguyên từ địa danh hồ Lăk rộng và đẹp nổi tiếng của vùng này (Đăk là nước, Lăk là tên chàng Lăk - nghĩa là nước của chàng Lăk), hoặc Buôn Ma Thuột là xuất phát từ tên riêng người tù trưởng của buôn là Ama Y Thuột đã có công xây dựng buôn làng...

DakLak1.bmp

Thời phong kiến xa xưa, nơi đây còn hoang sơ, dân cư thưa thớt, lạc hậu, chủ yếu là các dân tộc thiểu số, được gọi chung là xứ “Mọi”, là vùng Thượng du. Từ những năm 30 của thế kỷ 19, một số giáo sĩ thực dân phương Tây đã tìm cách len lỏi theo các con đường buôn bán của các thương gia người Kinh để thâm nhập vùng đất Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột. Những năm sau đó Pháp liên tục có các hoạt động thăm dò, song phải đến cuối thế kỷ 19, khi triều đình Huế đã đầu hàng thực dân Pháp, các hoạt động truyền giáo, thám hiểm vùng Tây Nguyên Đắk Lắk mới thực sự được đẩy mạnh.

 

Đầu năm 1899 Pháp cho quân từ Campuchia tiến sang lập căn cứ ở Buôn Đôn, lôi kéo các tù trưởng, khống chế nhân dân trong vùng và mở rộng dần vùng chiếm đóng ra các vùng xung quanh. Tháng 11/1899 thực dân Pháp coi Đắk Lắk là một khu tự trị và đặt địa lý hành chính tại Buôn Đôn.

 

Năm 1904, sau khi cơ bản bình định được các khu vực quan trọng, thực dân Pháp chính thức thành lập tỉnh Đắk Lắk và chuyển cơ quan cai trị của tỉnh từ Buôn Đôn về Buôn Ma Thuột. Ngày 22/11/1904 toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Đắk Lắk, tỉnh lỵ đặt tại Buôn Ma Thuột dưới quyền hành chính và chính trị của khâm sứ Trung Kỳ. Chế độ “sơn phòng” của nhà Nguyễn bị bãi bỏ, việc giải quyết mọi vấn đề ở Đắk Lắk chuyển qua tay thực dân Pháp. Tuy vậy, do công việc bình định còn nhiều khó khăn, thực dân Pháp lại có những điều chỉnh các khu vực hành chính đối với tỉnh Đắk Lắk, như năm 1913 sát nhập vùng Buôn Ma Thuột vào tỉnh Kon Tum, năm 1918 sát nhập vùng Cheo Reo của tỉnh Phú Yên, vùng M’Đrăk của tỉnh Khánh Hòa vào tỉnh Đắk Lắk...

 

Tháng 9/1923, toàn quyền Đông Dương đã ra Nghị định tách Đắk Lắk khỏi Kon Tum, trở lại thành một tỉnh độc lập, với tỉnh lỵ cũ là Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk với phạm vi hành chính mới này cơ bản được duy trì cho đến năm 1945.

 

Ngày 27/6/1946, sau khi chiếm lại các tỉnh Tây Nguyên, cao ủy Đông Dương Đác-giăng-li-ơ (D’Argenlieu) đã ký lệnh nhập 5 tỉnh Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng) thành một xứ gọi là ủy phủ liên bang các dân tộc miền Nam Đông Dương (hay còn gọi là xứ “Tây kỳ tự trị”) và chọn Buôn Ma Thuột làm thủ phủ. ở cấp tỉnh như Đắk Lắk, bộ máy và phạm vi hành chính không khác bao nhiêu so với trước tháng 8/1945. Tháng 6/1949, Bảo Đại đã đổi xứ “Tây kỳ tự trị” thành “Hoàng triều cương thổ”, lập ra ở cấp tỉnh các Hội đồng tỉnh, phạm vi hành chính các tỉnh, huyện căn bản vẫn như cũ.

 

Tháng 3/1955, Mỹ-Diệm xóa bỏ chế độ “Hoàng triều cương thổ”, thành lập tòa Đại diện Chính phủ tại Cao nguyên Trung phần, trụ sở đóng tại Buôn Ma Thuột. Đến ngày 23/1/1959, Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh thành lập một tỉnh mới ở nam Tây Nguyên gọi là tỉnh Quảng Đức, phạm vi từ nam Cầu 14 của Đắk Lắk vào giáp Phước Long, gồm 3 huyện là Đức Lập, Khiêm Đức, Kiến Đức và một yếu khu hành chính là Đức Xuyên, tỉnh lỵ đóng ở Gia Nghĩa (Đăk Nông). Cùng thời kỳ này, tỉnh Phú Bổn cũng được thành lập, trong đó bao gồm vùng huyện Cheo Reo cũ của Đắk Lắk, phạm vi tỉnh Đắk Lắk thu hẹp lại, song vị trí của thị xã Buôn Ma Thuột lại được nâng lên do có tầm quan trọng mới về quân sự, chính trị và kinh tế đối với cả vùng Tây Nguyên.

 

Năm 1963, khu vực Đắk Lắk được chia làm hai đơn vị tỉnh là B3 và B5; năm 1965 hai đơn vị B3 và B5 hợp nhất lại thành tỉnh Đắk Lắk thuộc khu V; từ năm 1971 chuyển huyện Đức Lập, Đức Xuyên về Đắk Lắk, chuyển Kiến Đức về Phước Long, chuyển Khiêm Đức và Gia Nghĩa về Lâm Đồng.

 

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hai huyện Đông Cheo Reo và Tây Cheo Reo được chuyển về tỉnh Gia Lai; tách một phần Đông Cheo Reo và Bắc M’Đrăk giao về tỉnh Phú Yên; nhập tỉnh Quảng Đức về Đắk Lắk. Năm 2003 Đắk Lắk tách thành hai tỉnh là Đắk Lắk và Đăk Nông. Tỉnh Đắk Lắk gồm thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh lỵ) và 13 huyện; trong đó có 154 xã, 13 phường và 13 thị trấn.

 

Văn hoá

 

Văn hoá truyền thống


Nói đến văn hóa truyền thống ở Đắk Lắk, trước hết phải nói đến nền văn hóa mang đậm nét đặc trưng của cư dân bản địa, từ bao đời nay đã tạo dựng nên một nền văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng, với những di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể độc đáo và đồ sộ.  

Nói đến các di sản văn hóa dân tộc, không quên các di sản văn hoá vật thể nổi tiếng như đàn đá, nhạc cụ, cồng chiêng, kiến trúc nhà dài, kiến trúc nhà mồ, công cụ lao động dệt thổ cẩm, tạc tượng... cùng các di sản văn hoá phi vật thể như luật tục, các lễ hội, các tập tục và các sinh họat văn hóa, sinh họat cộng đồng. Đặc biệt, tháng 11/2003, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đồ sộ và phong phú hơn cả là kho tàng văn học dân gian với những bản sử thi (Dân tộc Ê Đê gọi là Khan, dân tộc M’Nông gọi là át Nrông), thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, lời nói vần... đậm đà bản sắc dân tộc lưu truyền qua bao thế hệ. Ngoài ra dân tộc Ê Đê còn có cả chữ viết mà sau này được phiên âm sử dụng phổ biến từ thời Pháp, Mỹ cho đến nay.

Điểm nổi bật của văn hoá bản địa Đắk Lắk là: văn hoá lễ hội nhà dài, văn hoá cồng chiêng, văn hoá mẫu hệ, văn hoá ẩm thực, văn hoá sử thi, văn hoá luật tục, văn hoá cộng đồng độc đáo, phong phú giàu bản sắc dân tộc.Trước đây cũng như hiện nay, quan hệ xã hội cơ bản của đồng bào các dân tộc vẫn còn mang đậm tính huyết thống và tính cộng đồng bền chặt.

 

Nói chung, đồng bào các dân tộc Ê Đê cũng như M’Nông, Gia Rai đều có một đặc điểm lớn, đó là sự tồn tại bền vững của những mối quan hệ xã hội cổ truyền tốt đẹp được hình thành qua các thời kỳ lịch sử lâu dài.  Tinh thần cộng đồng, dân chủ, bình đẳng, tương thân tương ái... Bên cạnh đó, tinh thần thượng võ, nhân ái, yêu thiên nhiên, yêu chuộng hòa bình, cần cù sáng tạo cũng là những đặc trưng nổi bật của đồng bào các dân tộc. Nổi bật hơn cả là ý chí đấu tranh bất khuất chống chọi với thiên nhiên và truyền thống đấu tranh bảo vệ buôn làng, bảo vệ quê hương đất nước. Truyền thống đó đã được phát huy cao độ trong những năm nhân dân Đắk Lắk  đứng lên theo Đảng làm cách mạng, chiến đấu chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược.

 

Điểm tô thêm nền văn hóa truyền thống của các dân tộc bản địa, Đắk Lắk  còn có sự du nhập nền văn hóa của các dân tộc thiểu số phía Bắc và nền văn hóa của người Kinh với đủ sắc thái của ba miền Trung - Nam - Bắc. Tất cả đều được gìn giữ và phát triển, hòa quyện trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

 

Ngoài ra, nói đến văn hóa ở Đắk Lắk  cũng không thể không nói đến các danh thắng, các di tích lịch sử văn hóa mang dấu ấn của lịch sử. Trên địa bàn Đắk Lắk  đã tìm thấy một số di chỉ khảo cổ học mang dấu tích của người tiền sử. Đó là các di chỉ ở Drai Si (huyện Cư M’gar), xã Ea Tiêu, Quảng Điền (huyện Krông Ana), xã Buôn Triết, hồ Lăk (huyện Lăk), xã Trường Xuân, Dak Rung…

 

Qua các di chỉ trên, Đắk Lắk  đã tìm thấy những công cụ, khí cụ, đồ trang sức bằng đá; đồ gốm và bàn dập, bàn mài hoa văn trên gốm. Nguyên liệu chế tác đều lấy từ đá bazan và đá biến chất, vốn là đặc trưng của Tây Nguyên. Kiểu dáng và kỹ thuật chế tác có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Biển Hồ (Gia Lai) và văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi). Thời đại đồ đồng cũng đã phát hiện được 7 chiếc trống đồng ở huyện Ea Súp, Ea H’leo, Krông Pắc, Ea Kar và TP Buôn Ma Thuột.

 

Đặc biệt trên mảnh đất này còn có những dấu tích của người Chăm để lại, đó là tháp Yang Prong (Thần vĩ đại) ở xã Chư M’Lanh (huyện Ea Súp), những Rasungbatau (thùng lớn đựng nước) ở Buôn Ma Thuột, khu mộ cổ thuộc địa phận xã Ea Ktur và xã Cư Ewy (huyện Krông Ana), giếng Chăm ở xã Yang Mao, khu phế tích ở xã Hòa Thành (huyện Krông Bông). Trong đó, tháp Yang Prong được xây dựng vào cuối thế kỷ 13 dưới thời vua Sinhavarman III (Chế Mân), thờ thần Siva. Đây là tháp Chăm cổ duy nhất còn lại ở Tây Nguyên.

 

Thời kỳ hiện đại, chúng ta có hàng chục di tích nổi tiếng như: nhà tù Buôn Ma Thuột, đình Lạc Giao - nơi biểu hiện cho sự hiện diện của nền văn minh lúa nước của cộng đồng người Việt ở, đồn điền Ca Đa, Biệt điện Bảo Đại - dấu ấn của triều đại phong kến cuối cùng của Việt Nam, hang đá Đăk Tuar và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa khác.

 

Cơ sở vật chất

 

Thành phố Buôn Ma Thuột là một trung tâm văn hóa kinh tế lớn của tỉnh nói riêng và của Tây Nguyên nói chung; Các huyện đều có trung tâm văn hóa, thư viện và hơn 20% số buôn của đồng bào dân tộc tại chỗ được đầu tư xây dựng nhà văn hóa cộng đồng. Năm 2006, tỷ lệ số hộ được nghe phát thanh 97%, xem truyền hình 93%. Tại thành phố Buôn Ma Thuột có 4 rạp chiếu phim với 1.600 chỗ ngồi, 01 thư viện tỉnh với 150.000 bản sách và trên 140 loại báo tạp chí.

CỔNG THÔNG TIN DOANH NGHIỆP VÀ ĐẦU TƯ ĐẮK LẮK
Đơn vị chủ quản: Sở Kế hoạch và Đầu tư Đắk Lắk
Địa chỉ : Số 17 Lê Duẩn - Thành phố Buôn Ma Thuột - Tỉnh Đắk Lắk
Điện thoại : 0500.851462 Fax: 0500.852187
Số giấy phép:
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trần Hiếu (Giám đốc Sở KH&ĐT)
BusinessPortal được phát triển dựa trên công nghệ Portal DotNetNuke